Chỉ đường đến Tân Lạc

87976856456343

Hình ảnh Nhà vườn

543524434

Thông tin cần biết

Giavang
TY GIA
CHung khoan
Thoi tiet
facebook-icon  Yahoo-Messenger-icon  Twitter bird icon  images 1 
239123
Today
Yesterday
This Week
Last Week
This Month
Last Month
All days
21
11
118
115302
691
1034
239123

Your IP: 3.235.101.141
2020-10-22 17:05

CÂU CHUYỆN VỀ SẢN PHẨM RAU SU SU QUYẾT CHIẾN

Thực hiện Chương trình Quốc gia mỗi xã một sản phẩm (OCOP) năm 2019 huyện Tân Lạc đăng ký 03 sản phẩm, trong đó Rau Su su Quyết Chiến được coi là sản phẩm tiềm năng, dưới đây là câu chuyện về sản phẩm Rau su su

  1. Nguồn gốc hình thành:

Cây su su được coi như loại cây bản địa của vùng cao huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình. Từ hàng trăm năm trở về trước, hầu như gia đình nào ở nơi đây cũng trồng su su, mục đích để làm rau ăn hàng ngày. Trước đây trồng su su chủ yếu để lấy quả. Khoảng 20 năm trở lại đây, do nhu cầu của người tiêu dùng, su su vùng cao Tân Lạc được trồng theo hướng lấy ngọn và lá non. Từ cách trồng thông thường: cho cây su su mọc tự nhiên lên trên hàng rào hoặc những bám vào những cây lâu năm, nông dân vùng cao, trong đó chủ yếu là nông dân xã Quyết Chiến đã thay đổi hình thức canh tác: làm giàn trồng su su, bấm ngọn, tỉa lá tỉa hoa...để su su phát triển thân lá, khai thác ngọn và lá non để cung cấp cho thị trường.

2. Công nghệ sản xuất

Rau su su Quyết Chiến được trồng tập trung, hầu hết trồng trong vụ xuân, một chu kỳ trồng có thể thu hoạch trong nhiều năm, thời gian thu hoạch trong năm kéo dài từ tháng 4 đến tháng 11. Hết thời gian thu hoạch thì tiên hành cắt gốc, thu dọn tàn dư, sửa lại giàn...và bón phân lón (chủ yếu là phân chuồng).

Rau su su được thu hoạch thủ công, sau khi hái ngọn được sơ chế, bó thành bó hoặc đóng hộp để lạnh theo yêu cầu của khách hàng. Từ khi thu hoạch đến lúc giao hàng trong thời gia ngắn, đảm bảo rau luôn tươi ngon.

3. Chất lượng sản phẩm

Rau su su Quyết Chiến luôn đảm bảo tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, toàn bộ diện tích sản xuất hàng hóa đều đã được Chứng nhận VietGAP, một số diện tích đang trong thời kỳ chuyển đổi, sản xuất theo quy trình hữu cơ. Sản phẩm có tính đồng đều rất cao, chất lượng luôn luôn ổn định. Khi sơ chế đóng gói sẽ loại bỏ hoàn toàn các bộ phận già, héo, hoặc tạp chất khác, vì vậy rau không có tạp chất, người tiêu dùng có thể sử dụng từ 80-90 khối lượng rau, phần rau bỏ đi là rất ít

4.Sự khác biệt giữa sản phẩm của đơn vị so với các sản phẩm cùng loại:

Su su Quyết Chiến được trồng tại vùng đất có độ cao trên 1000m so với mặt biển, hầu hết được trồng trong thung lũng giữa, phía trên là rừng tự nhiên, vunbgf trồng cách xa đường giao thông, rất xa khu vực có các nhà máy, bãi rác... là môi trường sinh thái rất lý tưởng cho việc trồng rau. Rau su su hoàn toàn không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.

Rau Su su Quyết Chiến được thu hoạch chủ yếu trong mùa hè, là thời điểm nhiều nơi không có sản phẩm cùng loại. Thời gian vận chuyển từ nơi sản xuất đến trung tâm thành phố Hà Nội chỉ trong vòng 3h, quá trình vận chuyển không ảnh hưởng chất lượng rau.

Người tiêu dùng hoàn toàn yên tâm về chất lượng rau su su Quyết Chiến./.

         HTX RAU AN TOÀN QUYẾT CHIẾN

Gọi Nam Sơn (Tân Lạc) là “thủ phủ” của quýt ngọt bởi lẽ không nơi đâu thích hợp trồng cây quýt ngọt như ở đây. Quýt ngọt đã tạo thành vùng cây hàng hóa thế mạnh, là “cây vàng, cây bạc” đối với nông dân miền đất rẻo cao này.

Cây bạc triệu trên đất cằn

Nếu ai đã từng lên vùng cao Nam Sơn sẽ cảm nhận sự khắc nghiệt của khí hậu nhất là vào mùa đông, tiết trời lạnh giá, sương mù dày đặc suốt mùa, cỏ cây, hoa lá nhiều phen chết cóng, chết khô vì rét mướt và sương muối. Thế nhưng riêng loài quýt dù là quýt cổ từ thời ông, bà để lại và đến giờ là quýt ngọt vẫn chống chịu và sinh trưởng kiên cường. Ngạc nhiên hơn, khi quýt ngọt được đưa vào trồng trên đất đồi, đất dốc vùng này lại thích hợp với điều kiện thổ nhưỡng, mang đến cho người trồng liên tiếp những mùa quả ngọt.

Kể từ niên vụ từ năm 2012 đến nay, quýt ngọt trồng trên đất Nam Sơn được mùa, được giá. Bà con nơi đây cần mẫn chăm sóc, mở rộng vùng trồng quýt ngọt. Đổi lại, quýt ngọt giúp nhà nông thu về bạc triệu, mang đến cho họ cơ hội đổi đời, vươn tới cuộc sống ấm no. Theo ông Đinh Hồng Min, trưởng xóm Bương, hơn 10 năm trước, Chương trình 135 đưa giống quýt này đến với hộ nghèo. Đến năm 2008, Sở KH&CN triển khai dự án phục tráng quýt cổ, đồng thời hỗ trợ bà con về kỹ thuật trồng, chăm sóc để đạt hiệu quả cao. Thông thường, sau 4 - 5 năm kể từ khi trồng, quýt ngọt bước vào chu kỳ bói quả, càng về những vụ sau, năng suất, chất lượng quả càng khẳng định hơn.

Đến hẹn lại lên, cứ dịp 2 tháng cuối năm là bà con nông dân vùng cao Nam Sơn lại bước vào mùa quýt chín. Nhà nhà bận rộn thu hoạch. Lái thương từ Hà Nội, Hòa Bình lên, từ mạn Thanh Hóa sang hối hả thu mua. Những chiếc xe tải xếp thành hàng dài chở quýt ngọt, quýt bản địa về nơi có thị trường. Quýt vào thời kỳ kinh doanh cho quả sai, trái căng mọng, vỏ mỏng, sắc vàng rực rỡ, vị ngọt đậm đà. Tại vườn của nhiều hộ gia đình với những cây trồng lâu năm, tán rộng cho năng suất đến vài tạ. Đặc biệt, với lối canh tác chủ yếu dựa vào thiên nhiên, không sử dụng bất cứ một loại phân bón hóa học nào nên quýt ngọt Nam Sơn là hoa quả sạch, được thị trường ưa chuộng. Giá bán tại vườn dao động từ 28.000 – 30.000 đồng/kg.

Xuất hiện những nhà nông triệu phú

Trước năm 2010, khoảng 60% hộ dân ở xã vùng cao này thuộc diện nghèo, bình quân thu nhập đầu người chưa đến 4 triệu đồng/năm. Đồng chí Đinh Xuân Lừng, Chủ tịch UBND xã nhớ lại: Sau thời gian dài loay hoay với bài toán chuyển đổi cơ cấu cây trồng, xã đã tìm thấy hướng phát triển kinh tế cho mình, biến những bất lợi về điều kiện tự nhiên trở thành lợi thế để xây dựng và mở rộng vùng trồng quýt ngọt và quýt bản địa như hiện nay.

ông Hà Văn Hưng ở xóm Bái đã có “thâm niên” mười mấy năm trồng quýt ngọt, từ những năm 2003, 2004 khi dự án trồng thử nghiệm quýt ngọt hỗ trợ cho hộ nghèo ở Nam Sơn. Cho đến nay, khoảng gần 300 cây trong số 600 cây quýt ngọt ông trồng kế vụ đã vào thời kỳ cho quả, bình quân mỗi cây cho 50 kg quả, có cây lâu năm cho thu bạc triệu/vụ. Năm 2013, ông mới thu khoảng 5 tấn/vụ, năm 2014, ông thu 10 tấn/vụ nhưng đến vụ này sản lượng đã tăng hơn rất nhiều. Nhẩm tính đến hết vụ, ông cầm chắc thu nhập ngót nửa tỷ đồng.

Các triệu phú khác như ông Đinh Văn Đứng ở xóm Bương, ông Bùi Văn Đồng ở xóm Tớn tuy trồng sau nhưng cũng không thua kém ông Hà Văn Hưng về diện tích, quy mô cây quýt ngọt. Với hơn 1ha bao gồm cả quýt ngọt đã cho thu và cây thời kỳ kiến thiết, ông Đinh Văn Đứng thu trên 100 triệu đồng/vụ. ông Bùi Văn Đồng cũng với diện tích tương tự, khoảng hơn 200 cây đang vào kỳ kinh doanh, cho thu nhập bình quân 150 triệu đồng/năm.

Tại xã vùng cao Nam Sơn, quýt ngọt đã và đang được cấp ủy, chính quyền xã xác định là cây trồng chủ lực. Hiện có tới 95% tổng số hộ tham gia trồng quýt bao gồm cả quýt ngọt và quýt bản địa. Bình quân thu nhập năm 2016 ước đạt 16 triệu đồng/người/năm. Đặc biệt, từ chỗ phổ biến hộ nghèo, hộ có kinh tế khá “đếm trên đầu ngón tay”, đến nay trên địa bàn đã xuất hiện hàng chục nhà nông triệu phú. Trong tình hình thị trường nhiều tiềm năng đối với quýt ngọt, với 60 ha đã trồng, trong đó có trên 20 ha đã cho thu hoạch, dự kiến đến năm 2020, diện tích quýt sẽ được mở rộng lên 80 ha. Tin tưởng rằng, những năm sau này nữa, nơi đây sẽ còn xuất hiện ngày càng nhiều những triệu phú quý ngọt. cuộc sống của bà con nhờ cây bạc triệu này sẽ thỏa nguyện ước vọng đổi đời.

                                                                        Thu Hằng

Ngày 12/2, đồng chí Nguyễn Văn Quang, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh đã kiểm tra tình hình thực hiện di dân tái định cư cho các hộ dân vùng bị thiên tai, trượt sạt xã Nam Sơn và triển khai sản xuất rau, quả tại các xã vùng cao huyện Tân Lạc. Cùng đi có đại diện các sở: TN&MT, KH&ĐT, Xây dựng, NN&PTNT, GD-ĐT, Văn phòng UBND tỉnh.

Đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh đã thị sát thực tế, tìm hiểu đời sống nhân dân xã Nam Sơn- xã bị thiệt hại nặng nề do thiên tai mưa lũ lịch sử năm 2017. Trên địa bàn xã có 67 hộ dân nằm trong vùng nguy cơ cao trượt sạt, tập trung tại các xóm Tớn, Bái và xóm Trong. Hiện nay, huyện đang thực hiện các khu tái định cư bố trí ở tập trung cho 60 hộ dân và thực hiện xen ghép cho 7 hộ. Kiểm tra tiến độ thực hiện công tác di dân, nêu lên một số bất cập trong việc xây dựng tái định cư, đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu: Huyện Tân Lạc phối hợp với các ngành chức năng, chỉ đạo đơn vị tư vấn rà soát, tính toán khoa học các phương án xây dựng tái định cư bảo đảm tính khả thi và hiệu quả nhất, xây dựng khu tái định cư đồng bộ về hạ tầng đường, điện, nước gắn với bảo vệ môi trường, gắn với bảo đảm các yêu cầu về phát triển sản xuất, bảo đảm ổn cuộc sống lâu dài cho người dân vùng bị ảnh hưởng bởi thiên tai. Trong đó chú trọng bố trí dân cư gắn với quy hoạch, chương trình phòng chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu, tiếp tục quan tâm chỉ đạo công tác khắc phục hậu quả thiên tai mưa lũ, có kế hoạch bảo đảm sinh kế lâu dài cho người dân.

Kiểm tra dự án sản xuất rau, quả tại các xã Quyết Chiến huyện Tân Lạc, đồng chí Nguyễn Văn Quang, Chủ tịch UBND tỉnh đã đánh giá cao việc khai thác tiềm năng phát triển các loại rau su su và rau ôn đới ở các xã vùng cao huyện Tân Lạc. Toàn huyện đã có trên 80 ha, trong đó đáng chú ý là rau su su - cây trồng mang tính bản địa, trồng một lần cho thu hoạch nhiều lứa, lợi nhuận bình quân năm thứ nhất đạt 80 triệu đồng/1 ha. Cùng với đó, được sự hỗ trợ của tổ chức GNI Hàn Quốc, 2 xã Quyết Chiến và Lũng Vân trồng 3,5 ha rau ôn đới. Sản lượng thu hoạch 10 tấn/1ha, giá trị sản phẩm đạt 200 triệu đồng/1ha. Theo đánh giá với tiềm năng hiện có 5 xã vùng cao huyện Tân Lạc có thể sản xuất rau su su và các loại rau ôn đới với diện tích lên đến 120 ha.

Để các xã vùng cao phát triển hiệu quả các loại rau củ quả ôn đới, đồng chí Chủ tịch UBND đề nghị: Sở NN&PTNT và huyện Tân Lạc cần tiếp tục thực hiện tốt chính sách hỗ trợ của tỉnh, lồng ghép các nguồn vốn, tạo điều kiện để các hộ trồng rau phát triển sản xuất; tăng cường thu hút doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất kinh rau vùng cao, tính đến các chuỗi sản xuất, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững.

PHÒNG NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

Lợn bản địa là giống thuần chủng được nhân dân huyện Tân Lạc nói riêng, các địa phương trong tỉnh nói chung chăn nuôi từ lâu đời. Mặc dù khả năng tăng trọng và sinh sản thấp, trọng lượng cơ thể nhỏ nhưng lợn bản địa có nhiều ưu thế về chống chịu thời tiết, khí hậu khắc nghiệt, ít bệnh dịch, đặc biệt là chất lượng thịt thơm ngon, được nhiều người ưa chuộng, nhu cầu thị trường tương đối lớn.

Mô hình chăn nuôi lợn thịt bản địa đang giúp nhiều hộ dân xã Phú Vinh có thu nhập cuộc sống ổn định.

Xuất phát từ thực tế, hơn 2 năm qua, Dự án Giảm nghèo huyện Tân Lạc phối hợp với Hội Nông dân xã Phú Vinh triển khai “Chương trình cung cấp không hoàn lại con giống cho bà con”. ông Nguyễn Giáp Bảng, Phó trưởng Ban quản lý Dự án Giảm nghèo huyện cho biết: Từ nhiều năm nay, nuôi lợn bản địa vẫn được bà con duy trì. Tuy nhiên, người dân nuôi manh mún, thả rông theo truyền thống mà chưa quan tâm đến kỹ thuật, phòng, chống dịch bệnh. Sau khi dự án vào, chúng tôi đã hỗ trợ người dân về kỹ thuật và con giống. Từ các hộ chăn nuôi đơn lẻ, đến nay đã thành lập được một nhóm hộ chăn nuôi, qua đó, nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế đối với mô hình.

Ban quản lý dự án đã phối hợp với Hội Nông dân xã phân cho 14 hộ nuôi đầu kỳ (trong tổng số 42 hộ tham gia dự án) 14 con lợn giống bản địa theo hình thức cho vay vốn bằng con giống và trả vốn cũng bằng con giống. ông Bùi Xuân Diệu, Chủ tịch Hội Nông dân xã Phú Vinh cho biết: Triển khai dự án, chúng tôi ưu tiên những hộ hội viên nghèo nhưng trước tiên phải là những hộ có điều kiện về đất vườn chăn thả, nguồn lao động và đặc biệt phải là những hộ có ý thức, chăm chỉ, bởi chăn nuôi lợn bản địa không đòi hỏi nguồn lực cao nhưng yêu cầu sự cần cù, chịu khó.

Từ sự hỗ trợ ban đầu của dự án, đến nay, các hộ hưởng lợi trong xã đã đạt được những kết quả khả quan. Gia đình ông Đinh Công Nảy ở xóm Kè là một trong những hộ được nhận lợn mẹ chu kỳ đầu tiên từ dự án. Nhờ có diện tích đất vườn rộng, cộng với chăm sóc đúng cách, sau 2 năm tham gia dự án, từ 1 con lợn giống, đến nay, gia đình ông đã phát triển lên 7 con lợn mẹ và trên 30 lợn con. ông Nảy cho biết: Đàn lợn mẹ đã cho gia đình 3 lần xuất bán với gần 20 con. Từ hộ thuộc diện đặc biệt khó khăn, qua sự giúp đỡ của dự án bằng mô hình nuôi lợn bản địa, gia đình tôi đã thoát được nghèo.

Theo các hộ chăn nuôi, việc chăm sóc giống lợn bản địa khá đơn giản, chủ yếu tận dụng các loại thức ăn sẵn có như: rau lang, cây chuối, sắn, ngô, cám gạo... Đặc biệt với hình thức bán chăn thả, nên đầu tư thức ăn thấp hơn nuôi lợn lai. Chất lượng thịt của giống lợn bản địa thơm, ngon, được thị trường ưa chuộng. Hiện 1 kg lợn hơi bản địa giao động từ 100.000 - 120.000 đồng. Các gia đình dự định tiếp tục đầu tư mở rộng chuồng trại để phát triển thêm số lượng nhằm tăng thu nhập.

Tuy nhiên, hiện nay, các biện pháp kỹ thuật chăm sóc, thú y, phòng - chống dịch bệnh chưa được bà con chú ý. Từ thực tế đó, nông dân xã Phú Vinh mong muốn có cơ chế, chính sách hỗ trợ kỹ thuật, thức ăn, quan trọng nhất là hỗ trợ quảng bá thành phẩm. Có như vậy, mô hình chăn nuôi lợn bản địa mới có thể nhân rộng, phát huy những ưu điểm, khắc phục nhược điểm, nhất là khai thác có hiệu quả sản phẩm sạch, chất lượng cao cung cấp cho thị trường, cải thiện kinh tế hộ gia đình ở nông thôn miền núi, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từng bước nâng cao đời sống, giảm nghèo bền vững.

                                                                          Đinh Hòa

Mô hình triển khai tại 2 xã Tử Nê và Phú Vinh, huyện Tân Lạc (Hòa Bình). Thời gian thực hiện 3 năm, quy mô 38ha.

Mô hình triển khai tại 2 xã Tử Nê và Phú Vinh, huyện Tân Lạc (Hòa Bình). Thời gian thực hiện 3 năm, quy mô 38ha, với 20 hộ gia đình tham gia. Đây là những hộ có đủ điều kiện về đất đai, lao động, kinh phí và tình nguyện tham gia thực hiện mô hình. Khi tham gia, các hộ được hỗ trợ 100% cây giống (giống keo lai BV10, BV16, BV32) và 50% phân bón đồng thời tập huấn kỹ thuật cho các hộ từ cách trồng, khoảng cách trồng, cách chăm sóc, bón phân từng giai đoạn.

14-19-16_cn-bo-ky-thut-chi-se-voi-cc-ho-trong-keo-nuoi-cy-mo-ti-xom-bin-x-tu-ne-ve-cch-pht-hien-benh

Tham quan đồi keo nuôi cấy mô rộng 2ha của gia đình ông Bùi Văn dành xóm Bin, xã Tử Nê, ông cho biết: Khi nhận giống về trồng, tỷ lệ cây sống rất cao khoảng 98%. Với ưu điểm cây sinh trưởng đồng đều, nhanh, trồng từ tháng 9/2016 đến nay được khoảng 8 tháng mà cây đã đạt chiều cao từ 2- 2,5m, đường kính gốc 4cm. Thời gian trồng thành rừng gỗ lớn sau khoảng 10 năm sẽ cho thu hoạch, hứa hẹn cho hiệu quả kinh tế cao cho người trồng rừng.

Tương tự, ông Bùi Văn Hung xóm Bin có diện tích rừng 1ha và cũng là hộ được hưởng lợi từ dự án, ông cũng phấn khởi cho biết, keo nuôi cấy mô là giống cây mới cho năng suất, chất lượng cao. So với giống keo giâm bằng hom thì keo nuôi cấy mô vượt trội gấp 1 – 1,5 lần.

Đến nay mô hình áp dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật trồng rừng gỗ lớn mọc nhanh tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung đã có kết quả bước đầu. Cây sinh trưởng và phát triển tốt, chiều cao trung bình cây đạt 2m, trung bình 1 ha cho thu nhập 300 - 400 triệu đồng (sau 10 năm trồng), hiệu quả kinh tế của trồng rừng gỗ lớn tăng gấp nhiều lần so các giống khác.

Từ kết quả bước đầu của dự án trồng rừng gỗ lớn mọc nhanh tại xã Tử Nê và Phú Vinh đang dần thay đổi nếp nghĩ, cách làm của người dân, góp phần thúc đẩy sản xuất lâm nghiệp phát triển bền vững, mang lại hiệu quả kinh tế cao.

ĐÌNH THỦY

Template Settings

Color

For each color, the params below will be given default values
Blue Oranges Red

Body

Background Color
Text Color

Header

Background Color

Spotlight3

Background Color

Spotlight4

Background Color

Spotlight5

Background Color

Footer

Select menu
Google Font
Body Font-size
Body Font-family
Direction